Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Điều trị viêm gan B bằng cây cà gai leo


Điều trị viêm gan B dùng cà gai leo

Cà gai leo có tên khoa học là Solanum hainanense Hance Solanaceae. Theo đề tài cấp quốc gia “Nghiên cứu thuốc từ cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan” do tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Khai cùng cộng sự thực hiện, ước tính hơn hai tỷ người trên thế giới bị nhiễm virus viêm gan B (HBV), khoảng 350-400 triệu người bị nhiễm HBV mạn tính. Khoảng 25-40% số người bị nhiễm HBV mạn tính chết sớm vì xơ gan hoặc ung thư gan. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người mắc bệnh viêm gan siêu vi B cao, gần 10 triệu người mang HBsAg.Chất Glycoalcaloid trong cây cà gai leo có tác dụng ức chế sự sao chép và làm âm tính virus viêm gan B. Loại thực vật này còn có thể giúp giải rượu.
Điều trị viêm gan dùng cà gai leo
Việc tiêm phòng vắc xin hiện được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa căn bệnh này. Tuy nhiên với những người đã mắc bệnh, nhất là viêm gan B mạn tính thể hoạt động, việc điều trị trở nên khó khăn. Theo hướng dẫn từ Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD) 4 năm trước, mục tiêu cơ bản của điều trị là kiềm hãm sự sinh sôi của virus viêm gan B và đẩy lùi bệnh gan. Mục tiêu tối hậu là ngăn chặn xơ gan, suy gan và ung thư gan. Đối với bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B mạn tính thể hoạt động (khoảng 25%) cần điều trị bằng thuốc đặc hiệu. Những thuốc này thường rất đắt tiền, phải dùng kéo dài để duy trì sự ức chế siêu vi, hiệu quả cũng chỉ đạt 30-40% và khi ngừng thuốc có thể tái phát bệnh. Các thuốc này lại thường gây tác dụng phụ.
Hoạt chất mới phát hiện trong cây Cà gai leo có tác dụng điều trị viêm gan B.
Nghiên cứu của nhóm tiến sĩ Minh Khai cho thấy các nhà khoa học đã phát hiện ra hoạt chất mới trong cây cà gai leo (tên khoa học là Solanum hainanense Hance Solanaceae), có tác dụng ức chế sự sao chép, làm âm tính virus viêm gan B, chống viêm gan. Hoạt chất này cũng ức chế mạnh sự phát triển xơ gan, chống oxy hóa của dạng chiết toàn phần và hoạt chất chính glycoalcaloid trên mô hình thực nghiệm sinh vật.
Hoạt chất này được thử nghiệm trên người bệnh tình nguyện, không có tác dụng phụ, được Bộ Y tế cho phép nghiên cứu lâm sàng. Trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2, kết quả điều trị trên bệnh nhân viêm gan B thể hoạt động cho thấy có tác dụng khả quan.
Bên cạnh việc giúp điều trị bệnh viên gan B, cà gai leo còn có tác dụng giải rượu mạnh. Trước khi uống rượu, người ta nhấm rễ cà gai leo sẽ lâu bị say, khi say chỉ cần uống nước sắc sẽ chóng tỉnh rượu. Thí nghiệm ngâm cà gai leo với cồn cho thấy chỉ sau một đêm, lượng lớn cồn bị phá hủy hiện chưa rõ nguyên nhân
các bài viết liên quan:

Ngăn ngừa bệnh gan tái phát trong mùa xuân


Gan là một bộ phận rất quan trọng trong cơ thể con người giúp tiêu hóa, giải độc, tồn trữ dinh dưỡng và trao đổi chất, nên chúng ta phải hết sức chú ý bảo vệ gan. Có 10 điều đáng chú ý để phòng ngừa tái phát bệnh gan trong mùa xuân, nó cũng giúp trong quá trình điều trị viêm gan được tốt hơn
Phải ngủ cho đủ giấc.


Thức khuya, ngủ không đủ giấc, quá mệt mỏi rất không có lợi cho gan, là nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm gan và các bệnh gan khác. Căn cứ theo lý luận về mạch của y học truyền thống TQ, sáng sớm từ 1-3 giờ thì nhất định phải ngủ mới bảo vệ được gan và thải chất độc, theo lý luận hiện đại, thì từ 10 giờ tối cho đến 2 giờ sáng là thời gian dưỡng sắc, nếu như trong thời gian này không ngủ, thì da dẻ sẽ không được mềm mại, dễ mệt mỏi, thường cảm thấy khô cổ, đắng mồm, bị nhiệt, thậm chí  bị quầng mắt, ảnh hưởng đến vẻ đẹp của con người. Vì vậy, cách dưỡng gan và bảo vệ gan tốt nhất là 10 giờ tối đi ngủ để cho đủ giấc.
Luôn lạc quan.
Thường xuyên buồn bực sẽ ảnh hưởng đến gan, cũng tức là nếu như bạn tâm tình luôn nóng nẩy, bực tức, không được vui vẻ, thì sẽ rất không có lợi cho gan.
Không nên hút thuốc lá.
Hút thuốc sẽ ảnh hưởng đến gan chứ không có lợi cho sức khỏe. Khi hút thuốc nồng độ Ni cô tin trong máu sẽ tăng lên, mà gan lại phải gánh vác việc giải chất độc của những chất ni cô tin này.
Không được uống rượu.
Chất cồn có thể nói là ảnh hưởng tương đối trực tiếp đến tế bào của gan, bất cứ loại rượu nào đều phải thông qua quá trình trao đổi chất của gan, không những tăng thêm gánh nặng cho gan, đối với những người bị viêm gan mãn tính mà nói, thì càng tăng nhanh tốc độ quá trình dẫn đến xơ gan và ung thư gan.
Cân bằng dinh dưỡng.
Nên có thói quen ăn uống có giờ giấc và có định lượng để có một được một lượng dinh dưỡng nhất định, nên ăn nhiều rau xanh và hoa quả, sẽ giúp cho chúng ta không bị táo bón, giảm bớt gánh nặng cho gan.
Nên ăn những thức ăn tươi.
Không nên ăn những thức ăn không tươi, bao gồm cả gạo và lạc đã bị mốc, để tránh nguy cơ bị ung thư gan.
Không nên ăn những thức ăn có chất kích thích.
Do những thức ăn cay, chao rán dễ bị nhiệt ảnh hưởng đến gan.
Tránh ăn nhiều mỡ động vật và chất cholesterol như thịt béo, tim, gan v.v làm tăng thêm gánh nặng công việc thay đổi chất của gan.
Phải định kỳ đi kiểm tra sức khỏe.
Mỗi năm nên lấy máu hóa nghiệm một lần, để theo dõi chỉ số chức năng của gan, bảo vệ gan, những người đã mắc bệnh gan phải điều trị theo cách hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa, không nên thấy chỉ số hạ xuống quá chậm mà uống thuốc bừa bãi và tự tiện thay thuốc.
Nên có thói quen rèn luyện thân thể.
Mỗi tuần ít nhất là hai lần, mỗi lần khoảng trên dưới nửa tiếng, không những có lợi cho việc tuần hoàn máu, giúp cho việc thay đổi chất, mà cũng giúp cho việc bảo vệ hệ thống thần kinh, ngoài ra, hoạt động còn giúp cho sự bài tiết của bộ não, có thể chống tinh thần trầm cảm và bảo vệ gan một cách có hiệu quả.
Ngoài việc phải biết cách phòng chống bệnh ra, Đông y càng chú trọng cách dưỡng sinh qua ăn uống và cuộc sống hàng ngày, khi chưa bị bệnh, nên tránh những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh, đồng thời tích cực tăng cường sức đề kháng
Xem thêm các bài viết khác:

Một số bài thuốc nam chữa viêm gan vàng da


Chủ đề: Viêm gan b

Bài 1
Ốc nhỏ, nuôi ốc cho nhả hết đất, hằng ngày luộc ăn thịt, uống nước, chữa viêm gan vàng da do rượu.


Bài 2
Ráy gai 12 g, chó đẻ răng cưa 20 g, nhân trần 12 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.

chó đẻ răng cưa giúp điều trị viêm gan vàng da
Bài 3
Cây mã đề( còn gọi là cây xa tiền ) tươi lượng vừa phải, rửa sạch, dã lấy nước, mỗi lần dùng 100-150ml, thêm rượu nóng vào( bao nhiêu rượu thì căn cứ vào tửu lượng của người bệnh ) đắp chăn cho ấm, ra mồ hôi là có hiệu quả, uống liền 5-7 ngày

cây mã đề

Bài 4
Cỏ mần trầu tươi 60g, rễ tổ kén đực 30g sắc uống.

cỏ mần trầu
Xem thêm các bài viết liên quan:

Nhó đông – cây thuốc chữa viêm gan


Đặc điểm cây nhó đông – cây thuốc điều trị viêm gan b

Nhó đông (Morinda longissima Y.Z.Ruan) thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), là một cây bụi, cao 2 – 4m, gỗ thân và rễ có màu vàng. Thân hình trụ, mọc thẳng, cành non có 4 cạnh, màu lục nhạt. Lá mọc đối hình bầu dục thuôn hoặc hình mác, dài 12- 18cm, rộng 6 – 10cm, gốc thuôn,  đầu nhọn, hai mặt lúc non gần như nhẵn, khi già mặt dưới  có ít lông ngắn mềm, gần giữa nổi rõ, cuống lá dài 2 – 3cm, lá kèm gần hình tim nguyên hoặc chia thùy. Cụm hoa mọc ở đầu cành  hay kẽ lá thành đầu có cuống dài 2 – 2,5cm,  hoa nhỏ, màu trắng sít nhau, ở gốc mỗi hóa có 1 – 2 hàng phiến bao hình dùi; đài lúc đầu rời nhau sau hàn liền; tràng có 4 – 5 cánh hợp thành ống dài 2,5 – 3cm; nhị 4 – 5 đính ở khoảng 2/5 phần trên của ống tràng, chỉ nhị ngắn; bầu 4 ô. Quả nạc gồm nhiều quả mọng nhỏ.

cây nhó đông - cây thuốc điều trị viêm gan
Cây nhó đông

Mùa hoa: tháng 4 – 6, mùa quả tháng 7 – 12. Cây mọc hoang rải rác ở ven rừng thứ sinh hoặc ở trên nương rẫy cũ với độ cao dưới 800m. Thường gặp ở Sơn La, Lào Cai, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế.
Bộ phận dùng làm thuốc của cây nhó đông là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đào về, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Dược liệu có vị đắng, màu vàng, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kiện tỳ, hoạt huyết, tiêu viêm, tán ứ, chữa viêm gan, vàng da, xơ gan, được dùng dưới các dạng thuốc sau:
- Nước sắc: dược liệu nhó đông 20 – 30g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
- Cao mềm: lấy 1kg rễ nhó đông, thái mỏng đổ nước xâm xấp, nấu kiệt làm 2 lần. Lần thứ nhất nấu trong 6 – 8 giờ, rút nước. Lần thứ hai trong 3 – 4 giờ. Trộn hai nước lại cô nhỏ lửa thành cao  mềm. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 – 4g.
Ngoài ra, còn dùng dạng cốm được bào chế từ cao nhó đông  trộn với đường.
Thuốc giúp người bệnh ăn ngủ tốt, hết vàng da, vàng mắt, đầy bụng.
Đồng bào ở xã Chiềng An, thị xã Sơn La còn dùng rễ hoặc thân già (phần sát gốc rễ của cây nhó đông phối hợp với rễ cây hé mọ (Psychotria) để chữa viêm đại tràng cho kết quả tốt
Xem thêm các bài viết khác

Các bài thuốc điều trị viêm gan


Đối với bệnh viêm gan b virút nói riêng, viêm gan vàng da nói chung, Đông y có nhiều bài thuốc chữa rất có hiệu quả. Đây không phải là những bài thuốc đặc trị theo từng loại bệnh mà chính là tăng cường chức năng gan, lập lại sự cân bằng, giúp chức năng gan trở lại trạng thái bình thường.
Đông y không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Về phân loại, Đông y phân ra hai chứng hoàng đản: dương hoàng và âm hoàng.
Dương hoàng: biểu hiện mặt, mắt vàng tươi sáng như màu quả quít, da vàng nhuận, bệnh nhân cảm giác lợm giọng, nôn ọe, vùng thượng vị đau tức, nước tiểu đỏ, có sốt, thân thể mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn kém, rêu lưỡi vàng nhờn, hoặc trắng mỏng, chất lưỡi đỏ. Phép chữa là thanh nhiệt, lợi thấp.
Các bài thuốc điều trị viêm gan 1
Các bài thuốc điều trị viêm gan 2
Rau má và mướp đắng được dùng trong bài thuốc trị viêm gan
Bài thuốc: nhân trần 30g, vọng cách 20g, chi tử 10g, vỏ đại (sao vàng) 10g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g, nghệ vàng 20g, mã đề 12g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g. Tất cả cho vào ấm đất với 500ml nước, sắc còn 150ml, chắt ra, cho nước sắc tiếp, lấy thêm 100ml, trộn chung cả hai lần, chia đều uống trong ngày, uống trước các bữa ăn. Uống liền 7 – 10 ngày.
Âm hoàng: có triệu chứng mặt, mắt và da vàng hãm tối, bụng đầy, rối loạn tiêu hóa, vùng thượng vị, trung vị, hạ vị đều đau tức, không sốt, thân thể mệt mỏi, rêu lưỡi trắng mỏng, hoặc hơi vàng trơn, chất lưỡi nhợt nhạt. Phép chữa là ôn hóa hàn thấp.
Bài thuốc: nhân trần 30g, vọng cách 20g, gừng khô 8g, quế thông 4g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g (sao), nghệ vàng 20g, củ sả 8g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g (sao). Sắc uống như bài trên.
Điều trị theo thể bệnh
Thể can nhiệt tỳ thấp: viêm gan có vàng da kéo dài. Người bệnh thường thấy đắng miệng không muốn ăn, đầy bụng khó tiêu, ngực sườn đầy tức, miệng khô nhợt, đau nóng ở vùng gan, da sạm tối. Tiểu tiện ít, vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền. Phép chữa là thanh nhiệt lợi thấp, thoái hoàng, kiện tỳ trừ thấp. Dùng một trong các bài thuốc:
- Nhân trần 20g, chi tử 12g, uất kim 8g, ngưu tất 8g, đinh lăng 12g, hoài sơn 12g, ý dĩ 16g, biển đậu 12g, rễ cỏ tranh 12g, sa tiền tử 12g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Nhân trần ngũ linh tán gia giảm: nhân trần 20g, bạch truật 12g, sa tiền12g, đẳng sâm 16g, phục linh 12g, trư linh 8g, trạch tả 12g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Hoàng cầm hoạt thạch thang gia giảm: hoàng cầm 12g, hoạt thạch 12g, đại phúc bì 12g, phục linh 8g, trư linh 8g, bạch đậu khấu 8g, kim ngân 16g, mộc thông 12g, nhân trần 20g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thể can uất tỳ hư, khí trệ: hay gặp ở viêm gan mạn do viêm gan siêu vi. Người bệnh có biểu hiện mạn sườn phải đau, ngực sườn đau tức, miệng đắng, ăn kém, người mệt mỏi, đại tiện phân nát, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền. Phép chữa là sơ can kiện tỳ lý khí. Dùng một trong các bài thuốc:
-  Rau má 12g, mướp đắng 12g, thanh bì 8g, chỉ thực 8g, uất kim 8g, hậu phác 8g, ý dĩ 16g, hoài sơn 16g, biển đậu 12g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Sài hồ sơ can thang gia giảm: sài hồ 12g, bạch thược 8g, chỉ thực 6g, xuyên khung 8g, hậu phác 6g, cam thảo 6g, đương quy 6g, đại táo 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Sài thược lục quân thang: bạch truật 12g, đẳng sâm 12g, phục linh 8g, cam thảo 6g, trần bì 6g, bán hạ 6g, sài hồ 12g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
-  Tiêu dao tán gia giảm: sài hồ 12g, bạch thược 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, bạch linh 12g, cam thảo 4g, gừng sống 2g, uất kim 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thể can âm bị thương tổn: người bệnh có biểu hiện đầu choáng, hồi hộp, ngủ ít, hay mê, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, táo bón, nước tiểu vàng, mạch huyền sác. Phép chữa là tư âm dưỡng can. Dùng một trong các bài thuốc:
-  Sa sâm 12g, mạch môn 12g, thục địa 12g, thiên môn 8g, kỷ tử 12g, huyết dụ 16g, hoài sơn 16g, ý dĩ 16g, hà thủ ô 12g, tang thầm 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
-  Nhất quán tiễn gia giảm: sa sâm 12g, sinh địa 12g, nữ trinh tử 12g, mạch môn 12g, bạch thược 12g, kỷ tử 12g, hà thủ ô 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu mất ngủ, gia toan táo nhân 10g; sốt hâm hấp gia địa cốt bì 12g, thanh hao 8g. Mạch môn là vị thuốc trị viêm gan mạn thể can âm bị thương tổn rất hiệu quả.
Thể khí trệ huyết ứ: hay gặp ở thể viêm gan mạn có kèm theo hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch chủ. Người bệnh có biểu hiện sắc mặt tối sạm, môi thâm, lưỡi tím, lách to, người gầy, ăn kém, đại tiện phân nát, nước tiểu vàng ít, chất lưỡi đỏ hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi vàng dính, mạch huyền sác. Dùng một trong các bài thuốc:
- Kê huyết đằng 12g, cỏ nhọ nồi 12g, uất kim 8g, tam lăng 8g, nga truật 8g, chỉ xác 8g, sinh địa 12g, mẫu lệ 16g, quy bản 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Tứ vật đào hồng gia giảm: bạch thược 12g, đương quy 8g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, hồng hoa 8g, đào nhân 8g, diên hồ sách 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu lách to gia tam lăng 12g, nga truật 12g, mẫu lệ 20g, mai ba ba 20g
Xem các bài viết liên quan:

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Các thuốc gây độc cho gan


Chủ đề:  viêm gan b

Có nhiều mức độ tổn thương gan do tác dụng phụ của thuốc. Những thuốc thường gây tổn thương gan như: thuốc điều trị lao, thuốc trị tiểu đường, thuốc điều trị nấm… Những bệnh nhân có sẵn bệnh gan mạn tính dễ bị ngộ độc thuốc hơn bệnh nhân gan bình thường.
Phân loại gan bị tổn thương do thuốc
Tổn thương gan do thuốc có thể phân loại: tổn thương tế bào gan, tổn thương đường mật hoặc tổn thương phối hợp cả hai. Có nhiều loại thuốc không chỉ gây tổn thương đơn độc mà gây tổn thương phối hợp. Tổn thương gan do thuốc thường có đặc điểm giống bệnh lý tự miễn.
Các thuốc gây độc cho gan 1
Gan dễ bị tổn thương khi dùng thuốc.
Chẩn đoán tổn thương gan do một loại thuốc nào đó gây ra thường dựa trên hoàn cảnh bệnh và sự nghi ngờ của thầy thuốc nhận thấy rằng thời điểm khởi phát tổn thương gan liên quan đến loại thuốc đang sử dụng mà thuốc này có khả năng gây độc cho gan. Giải quyết biểu hiện của tổn thương gan thường là ngưng dùng thuốc gây độc gan. Đánh giá mô học của gan để biết mức độ tổn thương gan và tổn thương loại gì.
Yếu tố ảnh hưởng: tuổi, giới tính, liều lượng và thời gian dùng thuốc, chế độ dinh dưỡng, sự sử dụng cùng lúc nhiều thuốc, uống rượu, dạng trình bày của thuốc và yếu tố di truyền.
Một số thuốc đặc biệt
Acetaminophen: Thuốc gây độc cho gan tùy theo liều sử dụng. Khi điều trị cần chú ý xem xét liều lượng gây độc cho gan. Với liều nhỏ hơn 2-3g/ngày acetaminophen thấy an toàn và bệnh nhân chịu đựng được. Khi dùng đường uống với liều lớn hơn 10-15g sẽ đưa đến tổn thương gan nặng thường gây tử vong. Tổn thương gan do acetaminophen là dạng phổ biến của bệnh gan do thuốc, đặc biệt hơn là dạng suy gan cấp. Nồng độ men gan transaminase ở bệnh nhân ngộ độc acetaminophen thường lớn hơn 5.000 UI/l.
Ở người nghiện rượu, liều acetaminophen thông thường điều trị vẫn có thể gây độc cho gan, vì vậy phải cẩn thận khi dùng acetaminophen cho người nghiện rượu, không dùng nước uống có cồn để uống acetaminophen.
Isoniazide (INH): Từ giữa thế kỷ 20, INH là thuốc điều trị chính cho bệnh lao. Sự tăng men gan thấy xuất hiện vài tuần sau khi bắt đầu điều trị lao khoảng 10-20% bệnh nhân dùng INH. Sự tăng men gan này thường ở mức vừa phải và không liên quan đến dấu hiệu hay triệu chứng bệnh gan. Ở nhiều bệnh nhân tăng men gan tiếp tục dùng INH vẫn chịu đựng được và có thể sau đó men gan lại trở về gần bình thường. Nếu có tăng men gan, ngưng dùng INH thì men gan trở về bình thường trong vòng 1- 4 tuần. Tuy nhiên vẫn có một số ít bệnh nhân khi dùng INH có thể suy gan cấp.
Bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi có nhiều nguy cơ bị viêm gan khi dùng INH, bệnh nhân trẻ em ít khi có tổn thương gan xảy ra. Bệnh nhân nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam. Khi điều trị nên theo dõi kỹ để phát hiện viêm gan do INH để ngưng điều trị kịp thời tránh ảnh hưởng nặng cho gan. Nguy cơ ngộ độc INH càng tăng ở bệnh nhân nghiện rượu.
Hợp chất thuốc có từ cây cỏ và vitamin A: Nhiều sản phẩm thuốc từ cây cỏ có thể gây độc cho gan vì sự chế biến thường không theo một tiêu chuẩn nào cả.
Kava – kava: Kava là cây cùng dòng họ với cây tiêu. Từ nhiều thế kỷ qua thường được dùng làm nước uống để điều trị lo lắng, mất ngủ và những triệu chứng tiền mãn kinh ở dân vùng đảo Nam Thái Bình Dương. Những năm gần đây, Kava được dùng ở châu Âu và Mỹ. Nhiều trường hợp suy gan cấp và đưa đến tử vong do kava đã xảy ra. Nhiều sản phẩm chiết xuất từ kava bày bán trên thị trường gây tổn thương gan. Độc cho gan có thể do phương pháp chiết xuất kava từ rễ của cây. Theo cổ điển, chiết xuất được làm bằng cách ngâm rễ cây vào nước và hòa tan với sữa dừa. Ngày nay, người ta dùng ethanol hay acetone để pha chế nên gây độc cho gan.
Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan thường xuất hiện trong vòng vài tuần đến 4 tháng sau khi bắt đầu dùng kava. Ở nhiều bệnh nhân chỉ có duy nhất dấu hiệu tăng men gan. Tuy nhiên, ở vài bệnh nhân suy gan cấp, tử vong có thể xảy ra.
Vitamin A: Uống vitamin A quá nhiều là nguyên nhân gây ngộ độc gan phụ thuộc vào liều lượng có thể đưa đến xơ gan cổ trướng và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Uống thường xuyên liều lớn vitamin A (>25.000 đơn vị /ngày) có thể gây ngộ độc mạn tính và tổn thương gan. Tổn thương gan có thể xảy ra khi uống 15.000-40.000 đơn vị/ngày trong một năm, nhưng liều cao hơn có thể ngộ độc trong vài tháng. Tổn thương gan nhiều hay ít tùy thuộc liều lượng và thời gian sử dụng. Nhiều bệnh nhân có bệnh gan do vitamin A gây ra có khi không nhận thấy, chỉ khi bác sĩ lâm sàng thấy có hiện tượng bệnh nhân dùng vitamin A kéo dài kèm viêm gan mỡ, tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Người nghiện rượu nguy cơ càng cao. Hình ảnh lâm sàng của bệnh là khởi phát của xơ gan cổ trướng, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, giãn tĩnh mạch thực quản.
Tổn thương gan do thuốc trị HIV, VGB, VGC:
Rất khó biết trước được và rất khó đối phó với những độc tính do thuốc gây độc cho gan ở bệnh nhân HIV trải qua quá trình điều trị bệnh. Những bệnh nhân này thường liên quan bệnh gan do rượu, gan nhiễm mỡ, viêm gan mạn tính B, C và bệnh gan do độc tính thuốc điều trị. Có ba loại thuốc điều trị HIV: Pis, NRTIs, NNRTIs đều gây độc gan. Tình huống càng khó khăn phức tạp khi phải điều trị kèm viêm gan B, C. Tuy nhiên, việc điều trị cần thiết để tránh cho bệnh nhân không tử vong do xơ gan.
Bệnh nhân nhiễm HIV có nhiễm HCV dễ ngộ độc gan do thuốc, bệnh nhân nhiễm HCV có nhiễm HIV càng thúc đẩy HCV phát triển và dễ xơ gan, bệnh nhân dễ bị xơ gan hơn nhiễm HCV một mình. Những bệnh nhân này rất dễ ngộ độc thuốc chẳng hạn acetaminophen… và khi dùng rượu rất dễ ngộ độc, dễ đưa đến xơ gan và tử vong

Quan niệm sai lầm về viêm gan B


Viêm gan B là bệnh do virut gây ra, lây truyền theo đường truyền máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con; là bệnh có thể phòng ngừa hữu hiệu bằng vaccin. Tuy nhiên đến nay vẫn còn những quan niệm sai lầm trong cộng đồng về bệnh. Vì vậy người dân cần hiểu đúng về bệnh viêm gan B mới có được cách phòng ngừa tốt nhất.
Bệnh viêm gan B là bệnh di truyền vì thế thường thấy nhiều người trong gia đình cùng bị bệnh?
Đây là bệnh truyền nhiễm không phải bệnh di truyền, tuy nhiên nếu mẹ bị nhiễm bệnh sẽ có nguy cơ cao lây truyền sang con trong quá trình sinh đẻ, nhưng có thể hạn chế tới 95% nguy cơ này nếu dự phòng đúng cách.
Ăn uống chung hoặc tiếp xúc với người bị viêm gan B sẽ bị lây?
Viêm gan B không lây theo đường ăn uống giống viêm gan virut A, E nên khi ăn chung không bị lây truyền. Vì bệnh chỉ lây theo đường máu nên trong gia đình không được dùng dao cạo râu và bàn chải đánh răng chung với người có nhiễm virut viêm gan B.
Các loại thảo dược như: thuốc bắc, thuốc nam  có thể điều trị khỏi hoàn toàn viêm gan virut B?
Cho tới nay chưa có công trình khoa học đáng tin cậy nào cho thấy thuốc nam hoặc thuốc bắc có thể chữa khỏi hoàn toàn viêm gan virut B. Viêm gan virut B cấp tính không cần điều trị gì đặc hiệu sau 3-6 tháng 90% số người mắc bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Ở những người viêm gan virut B mạn tính khi dùng thuốc nam hoặc thuốc bắc có thể cải thiện tình trạng chung như: ăn ngon, ngủ tốt hơn nhưng ngày nay khi các phương tiện xét nghiệm hiện đại cho phép đo được nồng độ virut viêm gan B trong máu cho thấy thực chất virut vẫn  nhân lên trong cơ thể và gây tổn thương gan.
Cơ quan  Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho thấy có nhiều  thuốc có nguồn gốc thảo dược có thể  gây viêm gan do đó đã cấm sử dụng một số thảo dược như: Ma Huang, Kava, Ephedrine, Germander, Jin Bu Huan, Sassafra… Vì vậy  cần rất thận trọng khi sử dụng thảo dược để điều trị viêm gan virut B.
Tất cả người viêm gan B đều sẽ chết vì xơ gan và ung thư gan?
Ở người lớn viêm gan virut B cấp tính thì 90% số trường hợp sẽ khỏi hoàn toàn, còn lại chỉ 10% trở thành viêm gan virut B mạn tính, mà chỉ có viêm gan virut mạn tính không được theo dõi và điều trị mới gây ra xơ gan và ung thư gan.
Người bị viêm gan virut mạn tính phải có biểu hiện: đau vùng gan, không ăn được, sụt cân, vàng da?
Hầu hết bệnh nhân bị viêm gan virut B mạn tính không có biểu hiện ra ngoài mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.
Cứ tiêm phòng virut viêm gan B là không bị viêm gan virut B?
Tiêm vaccin phòng bệnh chỉ có tác dụng khi người đó chưa nhiễm virut viêm gan B và sau tiêm phải tạo ra được nồng độ kháng thể Anti-HBs trên 10 IU/l mới có tác dụng phòng mắc bệnh vì vậy trước khi tiêm phòng cần xét nghiệm HBsAg và Anti-HBs. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà đồng thời có âm tính với Anti-HBs hoặc nồng độ Anti-HBs thấp dưới 10 IU/l thì cần phải đi tiêm phòng vì cơ thể chưa bị nhiễm virut viêm gan B và cũng chưa có khả năng miễn dịch với bệnh hoặc đáp ứng miễn dịch còn thấp chưa đủ khả năng bảo vệ. Nếu có HBsAg dương tính  việc tiêm phòng không có tác dụng dự phòng.
Khi  xét nghiệm mà có HBsAg dương tính phải kiêng ăn các thức ăn  có nhiều đạm và chất béo như thịt cá, trứng, sữa…?
Đối với những người không bị béo không phải kiêng thức ăn gì đặc biệt họ có thể ăn uống bình thường và không dùng đồ uống có cồn như: bia, rượu

Con đường truyền nhiễm của viêm gan B là gì?


Bệnh viêm gan B bị truyền nhiễm như thế nào? Có thể chữa khỏi không? Nếu như bạn vẫn chưa hiểu vấn đề này, không sao, chỉ cần bạn kịp thời tìm hiểu nội dung. Và giảm thiểu nhân tố phát sinh gây bệnh sẽ có thể phòng chống bệnh một cách có hiệu quả. Chúng ta hãy xem xem bệnh viêm gan B truyền nhiễm như thế nào. Người bệnh thường sẽ kinh ngạc không biết tại sao mình lại mắc bệnh viem gan B, bệnh viêm gan B của mình truyền nhiễm như thế nào? Sau đây, các chuyên gia phòng khám đa khoa 12 Kim Mã sẽ giải đáp thắc mắc này cho các bạn.

Một trong những con đường truyền nhiễm viêm gan B chính là thông qua đường máu, truyền nhiễm qua đường máu là trường hợp thường gặp nhất, ví dụ như truyền nhiễm khi truyền máu. Truyền nhiễm qua y tế: cũng chính là bị truyền nhiễm trong quá trình y tế, trước mắt đa số là bị truyền nhiễm khi tiêm hoặc tiêm chủng, do vậy phải đặc biệt chú ý tới các thiết bị y tế như khi tiêm chủng, xăm mình. Truyền nhiễm từ mẹ sang con, người mẹ mang virut viêm gan B sẽ truyền virut viêm gan B sang cho thai nhi. Những đứa trẻ khi sinh ra cần phải kịp thời tiêm vacxin phòng viêm gan B, như vậy mới có thể phòng chống truyền nhiễm bệnh viêm gan B một cách có hiệu quả
Thân mật vợ chồng cũng sẽ truyền nhiễm bệnh viêm gan B, thê nên cuộc sống vợ chồng nhất định phải chú ý vệ sinh. Người trưởng thành sức khỏe bình thường đều có hệ thống miễn dịch tương đối hoàn thiện, virut thường rất khó thâm nhập, cho dù virut phá được phòng tuyến, xâm nhập vào trong cơ thể người khỏe mạnh, hệ thống miễn dịch của cơ thể cũng có thể tiêu diệt virut một cách nhanh chóng. Mắc bệnh viêm gan B hoặc mang virut viêm gan B, hoàn toàn không nhất thiêt phải căng thẳng hoặc kinh ngạc, có thể thông qua tiêm vacxin phòng viêm gan B, sản sinh ra kháng thể, đạt được mục đích kháng virut và bảo vệ cơ thể.
Xem thêm chủ đề:

Trẻ sơ sinh tiêm vacxin phòng viêm gan B thì có những phản ứng gì


Gần đây có rất nhiều bạn xin tư vấn giải đáp về vấn đề trẻ sơ sinh sau tiêm vacxin phòng viêm gan B thì sẽ có phản ứng gì? Trẻ sơ sinh sau khi tiêm vacxin phòng viêm gan B cần chú ý những điều gì? rất nhiều bậc làm cha mẹ không biết trẻ sơ sinh sau khi tiêm vacxin phòng viêm gan B cần phải chú ý cái gì, và càng không biết được trẻ sơ sinh sau khi tiêm vacxin phòng viem gan B có những phản ứng gì? Sau đây chuyên gia của phòng khám đa khoa 12 Kim Mã chúng tôi sẽ cho các bạn lời giải đáp chi tiết về vấn đề này.

Mang-Virut-VGB-co-phai-la-benh-di-truyen

Trẻ sơ sinh sau khi tiêm vacxin phòng viêm gan B sẽ có phản ứng gì 
Chuyên gia của phòng khám đa khoa 12 Kim Mã chúng tôi cho biết vì hệ thống miễn dịch của trẻ sơ sinh phát triển chưa hoàn thiện, rất dễ lây nhiễm virus gan B, cho vậy trẻ sơ sinh cần tiêm vacxin phòng viêm gan B, ngoài ra trẻ sơ sinh sau khi tiêm vacxin phòng viêm gan B sẽ xuất hiện một số phản ứng như sốt nhẹ, sưng tấy đỏ ở chỗ tiêm và scleroma, những hiện tượng này thường xuất hiện trong khoảng 24 tiếng, chỗ tiêm phản ứng nặng hơn thì sẽ gây ra hạch bạch huyết gần đó hoặc viêm các cơ quan khác, và những hiện tượng này có thể kéo dài trong vài giờ đồng hồ.
Chuyên gia cảnh báo các bậc phụ huynh rằng khi thấy trẻ sơ sinh xuất hiện những phản ứng trên sau khi tiêm vacxin phòng viêm gan B thì không cần quá lo lắng vì những hiện tượng đó chỉ kéo dài trong vòng từ 1 đến 3 ngày là tự hết. Nhưng nếu trường hợp phản ứng kéo dài mà không tự biến thì cần chú ý xem có phải là do truyền nhiễm ảnh hưởng không, lúc này cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay để được kiểm tra và điều trị kịp thời dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ.
Chuyên gia cho biết sức độ nhạy cảm phản ứng miễn dịch của cơ thể người lớn và trẻ sơ sinh không giống nhau, nên trẻ sơ sinh sau khi tiêm vacxin viêm gan B cần đến bệnh viện để kiểm tra xem trong cơ thể trẻ đã có kháng thể hay chưa, nếu như cơ thể trẻ chưa có kháng thể thì cần tiêm lại, ngoài ra với những đứa trẻ sinh ra không bình thường, ví dụ như đẻ non thì không nên tiêm phòng ngay để tránh phát sinh bất thường khác.
Xem thêm các chủ đề khác: